ứng dụng bioflocs đối với ương tôm chân trắng

Thảo luận trong 'Dịch vụ khác' bắt đầu bởi chopper, 23/7/21.

  1. chopper

    chopper Member

    Tham gia ngày:
    8/11/14
    Bài viết:
    301
    Điểm thành tích:
    16
    ứng dụng công nghệ bioflocs đối với ương tôm chân trắng
    Theo nghiên cứu trong vòng 35 ngày thực hiện với loại tôm post (khoảng 0,08g) đã được thả ở trong 12 bể có thể tích 300l, mật độ thả khoảng 2000 con/m3. Theo thí nghiệm về đánh giá nuôi tôm post ở 3 hệ thống biofloc là hóa dưỡng, biofloc dị dưỡng và trưởng thành. Nghiệm thức dị dưỡng với nồng độ oxy hóa thấp hơn so với thực nghiệm hóa dưỡng và trưởng thành. Hệ tohongs dị dưỡng có hàm lượng nitrit và amoniac với nghiệm thức khác. Tổng hợp chất rắn lơ lửng sẽ cao hơn nghiệm thức dị dưỡng và trưởng thành. Hàm lượng các chất lo lửng bay hơi dễ dàng, hàm lượng các chất rắn.

    Các cộng đồng vi sinh vật
    Khi mà bắt đầu các thí nghiệm thì các vi khuẩn di dưỡng còn sống sót cao trong hệ thống các dị dưỡng so với các nghiệm thức hóa dưỡng và trưởng thành. Tương tự như thế, vi khuẩn nằm ở trong họ Vibriona ceae có rất nhiều ở trong hệ thống các dị dưỡng so với những nghiệm thức hóa dưỡng tại các thời điểm và trưởng thành.

    Tăng trưởng
    Việc trọng lượng của cơ thể trung bình, tốc độ về tăng trưởng tôm nuôi với nghiệm thức về hóa dưỡng với tôm trưởng thành. Nhưng không có các khác biệt giữa các nghiệm thức khác và dị dưỡng. Sinh khối cuối cùng, năng suất cao hơn tại nhiều nghiệm thức hóa dưỡng, dị dưỡng với trưởng thành.

    Không hề có sự khác biệt đối với ý nghĩa với p >0,05 tỷ lệ sống, hệ số chuyển hóa thức ăn giữa nghiệm thức. Theo các nghiên cứu đã được chứng minh chiến lược về chuẩn bị môi trường ao nuôi có tác động tới thành phần biofloc, hiệu suất tôm, chất lượng nước trong ao nuôi tôm. Ở trong quá trình về thử nghiệm thì 2 hệ thống các hóa dưỡng, hệ thống trưởng thành có các kiểm soát ở trong mức độ hợp chất nito ở trong giới hạn chấp nhận với tôm chân trắng, chủ yếu do sự kiện diện vi khuẩn nitrat.

    Dù hệ thống các hóa dưỡng, hệ thống về trưởng thành đang có những ưu điểm về ngăn ngừa tích tụ hợp chất nito, tuy nhiên hiệu suất tôm khác nhau ở trong hệ thống đó. Sự tích tụ chất nitri trong điểm giữa thí nghiệm ở hệ thống dị dưỡng thấy rằng quá trình nitrat đã diễn ra ở trong bể.

    Các vi khuẩn sẽ chuyển đổi từ NH3 sang Nitrit với tốc độ nhanh chóng. Vi khuẩn nitrat hóa, gây ra hậu quả làm ảnh hưởng tới môi trường, nhất là nhiệt độ, nồng độ pH …

    Hiện tại các phương pháp chúng ta có được như sử dụng công cụ máy đo nồng độ oxy hòa tan trong nước sẽ là phương pháp tiện lợi trước đây khi chưa phát triển công cụ các thiết bị rẻ tiền khác không thể đáp ứng đúng nhu cầu sử dụng thì giờ đây máy đo nồng độ oxy hòa tan trong ao nuôi tôm đã giải quyest rất nhiều đo đạt oxy để nhận biết lượng oxy cung cấp đủ cho mật độ hồ và số lượng quần thể cá là bao nhiêu

    vui lòng gọi ngay cho chúng tôi : 0914 130 988