vì sao bệnh đốm trắng ở tôm luôn khó trị và cách phòng ngừa

Thảo luận trong 'Dịch vụ khác' bắt đầu bởi chopper, 22/11/21.

  1. chopper

    chopper Member

    Tham gia ngày:
    8/11/14
    Bài viết:
    341
    Điểm thành tích:
    16
    vì sao bệnh đốm trắng ở tôm luôn khó trị và các phương pháp phòng ngừa
    Ở trong tự nhiên thì tôm sẽ có được môi trường sống vô cùng lý tưởng cùng thức ăn rất lành mạnh, có mật độ về nuôi thấp. Nhưng hiện nay, mọi người lại nuôi tôm thâm canh. Nuôi tôm với mật độ cao thường khiến cho chúng hay bị stress, giảm khả năng về miễn dịch và khiến các virus gây ra bệnh đốm trắng có cơ hội được lây lan và phát triển.

    Các biện pháp về kiểm soát được bệnh đốm trắng trên tôm
    Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, chiến lược kiểm soát được bệnh đốm trắng ở trên tôm gồm có kiểm soát các sinh học(như loai trừ các tác nhân gây ra bệnh từ tôm giống và tôm bố mẹ, không tiến hành trao đổi nước, vệ sinh các thiết bị sạch sẽ), chế độ ăn uống phù hợp, quản lý được lượng thức ăn, đảm bảo được môi trường nuôi tôm tốt nhất. Với các tác động đó chiến lược để có thể phát triển được nghề nuôi tôm gồm phương pháp về tiêu chuẩn an toàn sinh học ở từng ao như kiểm nghiệm, giảm tác đọng từ virus với tôm. Phương pháp về việc quản lý bệnh đốm trắng sinh học gồm có:

    Chọn giống sạch bệnh
    Tôm giống nuôi cần chọn con không có virus khi thả vào trong ao nuôi và không chứa virus. Việc xét nghiệm tôm giống trước khi thả rất quan trọng, để thực hiện được trang trại nhỏ nhằm có thể kiểm soát bệnh hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, người nuôi cần chọn nơi có giống tốt, uy tín, kiểm dịch rõ ràng.

    Tăng sức đề kháng trên con tôm
    Dùng sản phẩm phù hợp để có thể tăng được sức đề kháng cho tôm. Bên cạnh đó, không nên sử dụng thức ăn cho tôm có nguồn gốc từ động vật thủy sản tươi hay là qua ướp đông.

    Hàng rào ngăn cua
    Lây nhiễm qua vật mang bệnh như là cua nên ngăn chặn bởi hàng rào để tránh cua hay loài giáp xác bò qua giữa ao nuôi. Bên cạnh đó, tránh xâm nhập từ những loài giáp xác tự nhiên vào hệ thống nuôi bằng cách xử lý nguồn nước cấp cùng dùng lưới lọc khi cho nước vào trong ao.

    Phương pháp về xử lý nước
    Đầu tiên là dùng nước cho ao từ nguồn nước xử lý bởi hóa học và tuân thủ được quy trình về lắng lọc, xử lý nước một cách triển để. Bên cạnh đó, tuân thủ thao tác về khử trùng, giữ nồng độ PH, oxy, độ mặn đạt chuẩn để đảm bảo nguồn nước nuôi sạch, không có mầm gây bệnh trên tôm. Để làm được điều này, các bạn có thể sử dụng thiết bị máy đo PH để có thể kiểm soát được môi trường sống của tôm. Máy đo độ PH giúp bạn đo kết quả nhanh chóng, chính xác, từ đó bạn có thể khắc phục được nồng độ pH khi lên cao hoặc xuống thấp kịp thời.

    Hy vọng những biện pháp về kiểm soát được bệnh đốm trắng diễn ra trên con tôm trên đây sẽ góp phần nào giúp cho người nuôi có thể kiểm soát và phòng bệnh cho tôm một cách tốt nhất, cho chất lượng và năng suất cao.

    Máy đo độ mặn tốt nhất Ở đây nhiều độc giả và người tiêu dùng thắc mắc có thể đo trên mực nước sông không. Câu trả lời là có thiết bị đô mặn chuyên dụng Thịnh Phát giúp bạn kiểm tra độ mặn trong nước nhanh chóng, cho kết quả hiển thị ngay màn hình LCD của máy. Chính xác và thiết bị rất dễ sử dụng cho những người mới tập sử dụng. Khi có kết quả đo mặn bạn có thể điều chỉnh nồng độ để giúp mặn trong ao nuôi tôm phù hợp, giúp tôm phát triển khỏe mạnh.

    Cho ăn tùy vào môi trường ao
    Nhiều yếu tố của môi trường ao nuôi ảnh hưởng tới cho tôm. Trong đó thì lượng oxy hòa tan, nhiệt độ chính là yếu tố rất được quan tâm. Tôm giảm ăn khi môi trường nước có hàm lượng oxy hòa tan giảm, ngưng ăn khi giảm sâu. Khi nhiệt độ giảm khoảng 2 độ thì thức ăn cần giảm 30% với lượng thức ăn bình thường hay cho. Do đó, cần kiểm tra được môi trường nước trước khi bạn cho tôm ăn. Nếu như oxy hòa tan, nhiệt độ chưa phù hợp thì bạn nên chờ ánh sáng mặt trời chiếu ít nhất khoảng giờ. Nhìn chung, bạn cần xem thức ăn là tài sản trước khi rải cho tôm, đồng thời là mối nguy hại nếu như còn lại ở trong ao khoảng 3 giờ sao. Bên cạnh quan tâm tới nhiệt độ, bạn nên quạt nước cho tôm ăn và khu vực cho ăn.